Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Định hướng đổi mới các quỹ tài chính quốc đi theo lối riêng gia ngoài ngân sách.

Duyệt y các hoạt động của các quỹ, thị trường tài chính, thị trường tiền tệ phát triển, tạo lập được nguồn vốn nhàn rỗi và tăng khả năng ứng phó với các rủi ro

Định hướng đổi mới các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

Bên cạnh đó, việc giám sát của các cơ quan quyền lực (Quốc hội, hội đồng dân chúng) và cơ quan kiểm toán còn hạn chế. Trong một số trường hợp, nguồn thu đúng ra phải được tập hợp vào ngân sách thì lại đưa vào quỹ tài chính; hoặc nhiệm vụ chi của quỹ tài chính quốc gia trùng với nhiệm vụ chi của NSNN (Quỹ bảo trì đường bộ có nguồn thu từ phí sử dụng đường bộ, Quỹ môi trường được bổ sung từ phí bảo vệ môi trường…).

Trong điều kiện nguồn lực của ngân sách còn hạn chế thì việc tụ tập một số nguồn thu riêng hoặc huy động thêm nguồn lực tài chính cho một số nhiệm vụ chi đã có tác động tích cực trong việc giải quyết một số nhiệm vụ quan yếu, các vấn đề an sinh xã hội, như: khám chữa bệnh cho người nghèo (Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo); đầu tư phát triển nhà ở (các Quỹ phát triển nhà ở địa phương); tương trợ giải quyết việc làm (Quỹ nhà nước giải quyết việc làm).

Do đó, việc thành lập nhiều quỹ tài chính quốc gia mà nguồn cân đối chủ yếu là từ NSNN sẽ dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực NSNN. Thành thử, cần thiết thành lập các quỹ tài chính nhà nước để hội tụ nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ này.

Song song, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Luật NSNN về chế độ thưa, công khai đối với các quỹ tài chính quốc gia, để tăng cường vai trò thẩm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực quốc gia và Kiểm toán nhà nước đối với các quỹ tài chính quốc gia. 100 tỷ đồng với sự tham dự của trên 55,8 triệu đối tượng; Quỹ bảo hiểm thất nghiệp có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 15.

- Xét theo thuộc tính thắt: Quỹ tài chính quốc gia được phân thành: Quỹ huy động bắt buộc, như: Quỹ bảo hiểm xã hội tấm, Quỹ bảo trì đường bộ…; Quỹ huy động tình nguyện, như: Quỹ bảo hiểm từng lớp tự nguyện… Một trong những vấn đề được quan hoài nhiều đối với hoạt động của các quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách là chế độ vắng, công khai.

Ngoại giả, việc thành lập các quỹ tài chính quốc gia có sự tham dự đóng góp của người hưởng lợi như Quỹ bảo hiểm từng lớp, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. 500 tỷ đồng với sự tham dự của trên 7,9 triệu đối tượng; Quỹ dịch vụ viễn thông công ích huy động đóng góp từ các doanh nghiệp 5. Bài đăng trên tùng san Tài chính số 8 - 2013. Ở nước ta, do đề nghị tập hợp nguồn lực tài chính của quốc gia để thực hành một số nhiệm vụ chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển sơn hà.

Cũng tạo điều kiện thu hút thêm các nguồn lực cả trong và ngoài nước, giảm bớt sự bao cấp từ ngân sách và giảm gánh nặng cho ngân sách. Tình trạng này, một phần do nguyên nhân Luật NSNN hiện hành năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật chưa có quy định hay phân định cụ thể phạm vi các khoản thu được đưa vào các quỹ tài chính nhà nước là thuộc hay không thuộc NSNN.

Hai là,   tụ hội nguồn lực tài chính để thực hành một số đích, nhiệm vụ nhất thiết. ; Quỹ đầu tư như: Quỹ đầu tư phát triển của địa phương, Quỹ phát triển nhà địa phương… - Xét theo mối quan hệ với NSNN: Các quỹ tài chính nhà nước được chia thành: Quỹ hoạt động độc lập với NSNN (NSNN không hỗ trợ vốn thành lập ban sơ và kinh phí trong quá trình hoạt động) như: Quỹ bảo hiểm từng lớp tự nguyện; Quỹ bảo hiểm y tế; Quỹ bình ổn giá xăng dầu…; Quỹ hoạt động độc lập tương đối với NSNN (được NSNN tương trợ vốn thành lập hoặc/và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động thẳng tuột): Quỹ phát triển khoa học công nghệ nhà nước; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam; Quỹ phát triển hiệp tác xã Việt Nam…  thực tiễn thời gian qua số lượng các quỹ tài chính nhà nước tăng nhanh; song song có xu hướng khi trình Quốc hội ban hành các luật quản lý chuyên ngành đều kèm theo các quy định về thành lập các quỹ tài chính quốc gia  - Xét theo thuộc tính tài trợ của quỹ: Các quỹ tài chính nhà nước được chia thành: Quỹ có bồi thường (cho vay có thu hồi), như: Quỹ đầu tư phát triển địa phương; Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quỹ quốc gia giải quyết việc làm…; Quỹ không đền bù (cấp phát từ quỹ), như: Quỹ tương trợ người nhiễm HIV/AIDS; Quỹ bảo hiểm thất nghiệp…; Quỹ lưỡng tính (vừa cấp phát, vừa cho vay có thu hồi), như: Quỹ phát triển hợp tác xã Việt Nam; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam.

Hai là,   nâng cao hiệu quả hoạt động các quỹ tài chính quốc gia. Trong đó, có một số quỹ được NSNN cấp tương trợ vốn thành lập ban đầu hoặc hỗ trợ vốn trong quá trình hoạt động.

Nguồn: internet  Nhìn từ nhu cầu và các quy định   Các nước trên thế giới đều có quỹ tài chính ngoài ngân sách, cốt tử trong các lĩnh vực an sinh tầng lớp, coi ngó y tế, liên lạc, lương hưu… Tuy nhiên, chừng độ phát triển, quy mô và cơ chế quản lý, dùng các quỹ tài chính ngoài ngân sách khác nhau.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại các quyết định thành lập quỹ, các quỹ tài chính nhà nước phải thực hành chế độ công khai tài chính để tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan nhà nước có liên quan và quần chúng. 700 tỷ đồng với sự tham gia đóng góp của trên 10 triệu đối tượng; Quỹ bảo hiểm y tế có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 9.

Thứ hai,   một số quỹ tài chính nhà nước chưa có phân định rõ ràng, trùng lặp nguồn thu, nhiệm vụ chi với NSNN.

Để đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý thu, chi đối với các quỹ tài chính quốc gia, Bộ Tài chính đang nghiên cứu sửa đỏi, bổ sung quy định trong Luật NSNN về khái niệm quỹ tài chính quốc gia, quy định rõ quỹ tài chính nhà nước là quỹ có nguồn thu (một phần hay vớ) được hình thành từ khoản thu của quốc gia và có nhiệm vụ chi (một phần hay toàn bộ) là các nhiệm vụ chi của nhà nước, nhưng không trùng với nhiệm vụ chi của NSNN.

Ba là,   tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các quỹ tài chính nhà nước. Tùy theo quy mô, tính chất hoạt động, thưa quyết toán tài chính hàng năm của một số quỹ tài chính quốc gia phải được kiểm toán theo quy định. Với việc phát triển các quỹ thì các hoạt động tài chính quốc gia cũng trở thành đa dạng, phong phú hơn.

Định hướng đổi mới trong thời gian tới    Một là,   sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật NSNN. Xét về quy mô, có một số quỹ tài chính nhà nước của Trung ương như: Quỹ bảo hiểm xã hội bắt, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Quỹ cho vay giải quyết việc làm, Quỹ tương trợ sắp xếp doanh nghiệp Trung ương, Quỹ tích lũy trả nợ và các Quỹ đầu tư phát triển ở địa phương là có nguồn thu - nhiệm vụ chi lớn (chiếm trên 95% tổng số chi của các quỹ tài chính quốc gia); còn lại chính yếu là các quỹ có quy mô vốn nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp trong một lĩnh vực hoặc một địa phương.

Theo quy định các quỹ tài chính nhà nước thực hiện cơ chế "tự kiểm soát" tiêu xài. Cho nên, trong trường hợp Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát, Bộ máy quản lý điều hành quỹ yếu kém, quản lý không chém đẹp sẽ dễ dẫn đến khả năng vi phạm chế độ tiêu pha, dùng kinh phí sai mục đích, thất thoát, phung phí.

). Mặc dầu nguyên tắc tự bảo toàn vốn được đặt ra khi quyết định thành lập, nhưng nhìn chung, trừ các quỹ tài chính có hình thức huy động, đóng góp của đối tượng hưởng lợi (Quỹ bảo hiểm tầng lớp ép, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp…) và một số quỹ tài chính có mục tiêu an sinh xã hội, hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong xã hội, thì nhiều quỹ tài chính nhà nước nguồn vốn hoạt động đốn là từ NSNN, nguồn huy động ngoài ngân sách rất hạn chế (Quỹ phát triển khoa học nhà nước; Quỹ bảo vệ môi trường, Quỹ tương trợ phát triển hiệp tác xã.

Chuẩn y hoạt động của một số quỹ tài chính quốc gia, cũng góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hóa, giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nảy, đặc biệt là các vấn đề từng lớp bức xúc.

Theo quy định, các quỹ tài chính nhà nước phải thực hiện lập kế hoạch thu, chi tài chính quỹ hàng năm bẩm cơ quan chủ quản duyệt; thực hành vắng quyết toán tài chính hàng năm.

Trong thời kì tới, cần nghiên cứu ban hành khuôn khổ pháp lý quy định thống nhất về quản lý các quỹ tài chính nhà nước, trong đó quy định rõ về điều kiện thành lập, thẩm quyền cho phép thành lập, nguyên tắc về tổ chức, cơ chế tài chính, cơ chế hoạt động quỹ, cũng như quan hệ giữa các quỹ tài chính với NSNN và giữa các quỹ trong hệ thống tài chính quốc gia.

Bên cạnh đó, việc thành lập các quỹ tài chính quốc gia cho các đích an sinh tầng lớp, hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong từng lớp. Chả hạn như: Quỹ bảo hiểm từng lớp bắt có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 156.

Thực tế thời kì qua số lượng các quỹ tài chính nhà nước tăng nhanh; đồng thời có xu hướng khi trình Quốc hội ban hành các luật quản lý chuyên ngành đều kèm theo các quy định về thành lập các quỹ tài chính nhà nước (Luật liên lạc đường bộ; Luật hợp tác xã; Luật khoa học và công nghệ; Luật bảo vệ môi trường.

Trong thời kì tới, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục thực hiện rà lại các quỹ tài chính quốc gia hiện có; tiếp chuyện đẩy mạnh thực hành sắp đặt lại các quỹ theo tinh thần Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 1/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấn chỉnh việc thực hành các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân.

Ba là, góp phần phát triển mở mang, đa dạng các hoạt động tài chính của quốc gia. Cũng ăn nhập với thông lệ quốc tế, san sớt gánh nặng tài chính giữa quốc gia, doanh nghiệp và người cần lao. Tổng kết sơ bộ đến nay, có khoảng trên 20 quỹ/ loại quỹ tài chính nhà nước đã được thành lập ở Trung ương và địa phương, với quy mô, tính chất, phạm vi hoạt động khá đa dạng. Kết quả hoạt động và một số tồn tại      Những mặt hăng hái      Một là,   một số quỹ tài chính quốc gia ngoài ngân sách đã huy động thêm nguồn lực tài chính để thực hiện những đích khăng khăng.

498 tỷ đồng trong giai đoạn 2006-2010; các quỹ tài chính thực hiện mục tiêu tương trợ người nghèo, người yếu thế trong tầng lớp (Quỹ bảo trợ trẻ em, Quỹ hỗ trợ người nhiễm HVI/AIDS,…) cũng huy động thêm nguồn lực đóng góp của cộng đồng.

Về hướng dẫn cơ chế tài chính các quỹ tài chính quốc gia, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính đã ban hành hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan Trung ương có can hệ ban hành văn bản hướng dẫn thực hành chế độ tài chính đối với các quỹ tài chính nhà nước.

Đối với các quỹ tài chính quốc gia Trung ương do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và giao cho các Bộ, cơ quan Trung ương quản lý, dùng cho các mục tiêu chung của nhà nước hoặc của ngành; các quỹ tài chính quốc gia địa phương do Ủy ban dân chúng cấp tỉnh quyết định thành lập, quản lý và sử dụng cho các đích phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. ).

Thứ ba,   cần tăng cường cơ chế kiểm soát đối với các quỹ tài chính quốc gia. Thời kì qua, một số quỹ tài chính đã thực hiện huy động đóng góp của các DN, các tổ chức kinh tế và người cần lao (đốn là huy động buộc), qua đó đã khích lệ thêm được nguồn tài chính phục vụ cho một số mục tiêu của cộng đồng hoặc của ngành, lĩnh vực, thực hành tốt các chính sách an sinh tầng lớp.

- Xét theo đặc điểm và mục đích sử dụng: Các quỹ tài chính nhà nước được chia thành: Quỹ chuyên dùng chỉ sử dụng cho một số nhiệm vụ, hoạt động một mực, như: Quỹ phát triển khoa học công nghệ nhà nước; Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài; Quỹ tương trợ phát triển hiệp tác xã Việt Nam; Quỹ bảo vệ môi trường. Ảnh minh họa. Để đảm bảo hoạt động có hiệu quả các quỹ tài chính nhà nước, nâng cao tính độc lập, khả năng tự cân đối của quỹ, hạn chế tài trợ từ NSNN, kiến nghị không thành lập thêm các quỹ không có khả năng tài chính độc lập, đặc biệt là các quỹ có nguồn huy động, tài trợ đốn là từ NSNN.

Hiện thời, các quỹ tài chính nhà nước đều được thành lập theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có liên tưởng. Một số tồn tại     Bên cạnh mặt hăng hái trên, các quỹ tài chính quốc gia cũng còn một số mặt hạn chế, cần phải khắc phục, như:  Thứ nhất,   việc huy động của một số quỹ tài chính nhà nước còn hạn chế, cốt yếu vẫn là từ NSNN, dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực NSNN.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét