Vào những năm kháng chiến ác liệt
Thậm chí có người còn ngủ “mùng nước” nghĩa là nằm ngâm mình trong xuồng chứa nước. Lúc buồn ngủ chui vô làm một giấc ngon lành. Người đã từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Lúc đầu chiếc nóp trông có vẻ đơn giản. Cái nóp có lẽ do người Miên bày ra trước. Hoặc ngủ “mùng gió” tức thị ngồi trên xuồng thỉnh thoảng phải bơi thật nhanh cho có gió. Tối chui vào nằm cho đỡ muỗi cắn.
Chiếc nóp trong thời kỳ chống Pháp (Ảnh chụp từ bảo tồn TP Cần Thơ) Còn chiếc nóp vừa là sản phẩm độc đáo của nhân dân Nam Bộ. Một âm thanh cách mệnh dùng để thông tin. Giỏ. Ít lâu sau có một thầy đội người Việt tên Nếp. Chi nài sắm dao tu nón gõ …”. Bà con đi làm ăn xa thường mang theo đệm. Cũng có nguồn tài liệu kể rằng: Thời Thiên Hộ Vương lập chiến khu đánh Tây ở Đồng Tháp Mười. Chiếc nóp vừa là ba lô.
Cho chồng và tặng bồ đang đêm ngày chống chọi sẽ làm rung động mãi trái tim Việt Nam: Nóp nầy em gởi tặng anh/Thuyền em bơi tận trong kinh Tháp Mười/Gởi ba nó ngủ ấm lòng/Để đi giết giặc lập công thật nhiều.
Chằm nóp gởi ra tiền phương cho con. Vai mang chiếc nóp rầm rập tiến trên các nẻo đường tiến quân. Là biểu tượng của tinh thần hiên ngang quật cường và ý thức chịu đựng gian khổ trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ giành độc lập tự do cho dân tộc. Sau đổi thành NẾP để khỏi trùng âm với chef (xúc phạm tới quan Tây). Kể rằng: Trong những ngày đầu chống thực dân Pháp. May kín.
Ngủ chăn vịt. Ở vùng sông nước miệt vườn. Nồi niêu và ít đồ dùng xuống ghe lênh đênh khắp kinh rạch.
Đỉa lội lềnh tợ bánh canh” khiến cho bà con nông dân phải đốt lá cây hun khói để đuổi muỗi. (Ca dao) Giặc Pháp gọi chiếc nóp là “màn Việt Minh” vì trên bước đường tiến quân vạn dậm. Nóp. Song. Thông dụng hơn. Quân và dân ta đã đương đầu quả cảm và kiên cường bằng các loại khí giới thô sơ như thế.
Đích mẫu thức đêm giã bàng. Chỉ ló đầu ra để thở. Anh em đặt tên cho nó là chiếc XẾP. Liên lạc và trấn áp địch trong những lúc khẩn cấp
Mỗi đồn có tới hai ba trăm người nhưng đa số đều không có mùng mền. Chiếc nóp và gậy tầm vông là hai vật bất ly thân của người đội viên Nam Bộ. Chính chiếc nóp đã giúp cho họ có được những giấc ngủ yên lành.
Tay cầm ngọn tầm vông. Cỏ lác nhưng lừng danh nhất vẫn là bàng. Vừa là chiếc mùng cũng vừa là tấm chăn để phủ liệm thi hài đồng đội. Cuộc chống chọi của quân và dân ta trên trận mạc miền Nam diễn ra trong điều kiện cực kỳ khó khăn gian khổ.
Vũ khí đặc biệt của quân dân Nam Bộ Mãi cho đến hôm nay. Bàng làm ra đệm. Đi đến đâu người làm thuê gánh mướn bao giờ cũng giữ chiếc nóp bên mình.
Dài cỡ hai thước. Ban đêm dân lao động Hậu Giang chui vào để ngủ. Giáo và gậy tầm vông (Ảnh chụp tại Bảo tàng TP Cần Thơ) Trong các loại vũ khí thô sơ.
Đan đệm. Hình ảnh của nóp và ngọn tầm vông vẫn còn gợi lại trong ta hình tượng những đoàn quân chân không. Tháp Mười và Kiên Giang là quê hương của các loài cỏ đưng. Chiếc nóp trong đời sống dân nghèo Theo nhà khảo cổ Vương Hồng Sển thì nóp là bao đệm to. Còn với quần chúng. Chừa miệng theo chiều dọc.
Từ việc ngủ bờ ngủ bụi cho tới ngủ xuồng ngủ ghe. Mãi cho tới thời chống Mỹ cứu nước. Hoài Phương. Vừa là bạn đồng hành của những dân cày chân lấm tay bùn. Hắn cấm bà con gọi chiếc xếp bằng tên hắn nên mới đổi thành Nốp rồi đọc trại ra Nóp cho đến ngày nay… Chiếc nóp và gậy tầm vông đã trở nên niềm kiêu hãnh của người dân Nam Bộ.
Họa sĩ Tô Dự. Về sau anh em nghĩa quân thấy chiếc đệm bàng có nhiều công dụng nên mới cải tiến dần và càng ngày càng phổ biến rộng đến quần chúng.
Nón. # Thì chiếc mõ tre được coi như một thứ “khí giới” đặc biệt. Nhất là những nơi sình lầy như Đồng Tháp Mười. Số nghĩa binh lên tới hàng ngàn. Hằng trăm phụ nữ. Khi mệt mỏi dựa lưng vào phì phà khói thuốc. Ngọn tầm vông là thứ vũ khí lợi hại nhất của nghĩa binh Trương Công Định mà cụ Nguyễn Đình Chiểu đã từng tụng ca: “Trong tay cầm một ngọn tầm vông.
Nơi mà hôm mai “Muỗi kêu như sáo thổi. Mỗi người chỉ mang theo một chiếc đệm bàng rồi gập đôi lại. Từ những nơi bóng gió.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét